ShanBo
Vị trí hiện tại:Trang chủ>Trung tâm tin tức

-Trung tâm tin tức-

Cách đọc mối liên hệ giữa hai dòng dữ liệu góc và độ sâu khoan trong tài liệu máy khoan lấy lõi đá t

Ngày:2026-10-26 07:03:17Lượt xem:5

Khi mở tài liệu của một máy khoan lấy lõi đá trong hầm lò, góc và độ sâu khoan thường được xếp thành hai dòng: một dòng là hướng khoan, dòng kia là độ sâu khoan tham chiếu theo từng cỡ đường kính. Thoạt nhìn như hai nhóm thông số độc lập, nhưng khi sử dụng thực tế lại ràng buộc lẫn nhau — cùng cỡ NQ, hướng 90° ghi 800 m, hướng 0° ghi 400 m, hướng -90° chỉ còn 200 m. Nếu không đọc hai dòng cùng nhau, rất dễ lấy độ sâu khoan tối đa của một hướng làm năng lực của toàn máy, hoặc chọn thiết bị theo độ sâu lỗ khoan thiết kế rồi mới phát hiện hướng khoan dự kiến không nằm trong cấp đó.

Mối quan hệ thực tế của hai dòng dữ liệu: góc là công tắc chọn cấp, độ sâu khoan là giá trị trong cấp đó

Trong tài liệu công khai của CR800UG, độ sâu khoan không phải một giá trị đơn lẻ mà được nhóm theo hướng khoan:

Hướng khoan (tham chiếu)BQNQHQ
90°920 m800 m380 m
0°600 m400 m200 m
-90°350 m200 m150 m

Nhóm dữ liệu này cho thấy độ sâu khoan thay đổi theo hướng khoan, chứ không phải một giới hạn cố định. Khi đọc tài liệu, nếu chỉ nhớ “NQ 800 mét” sẽ bỏ qua sự suy giảm năng lực ở lỗ khoan ngang và lỗ khoan hướng lên. Ngược lại, nếu chỉ thấy 400 m ở hướng 0° cũng có thể đánh giá thấp năng lực ở lỗ khoan hướng xuống. Hai dòng phải tương ứng theo nhóm thì mới có ý nghĩa lựa chọn thiết bị.

Cách đọc mối liên hệ giữa hai dòng dữ liệu góc và độ sâu khoan trong tài liệu máy khoan lấy lõi đá trong hầm lò

Vì sao góc ảnh hưởng đến độ sâu khoan: hướng chịu lực của cần khoan khác nhau

Tài liệu gán 90°, 0°, -90° tương ứng với ba hướng xuống, ngang, lên. Ở ba hướng này, trọng lượng bản thân cần khoan tác động khác nhau đến cấp tiến và nâng hạ: lỗ hướng xuống, trọng lượng cần khoan hỗ trợ đẩy tới nhưng khi nâng hạ cần phải khắc phục trọng lượng lớn hơn; lỗ ngang, cần khoan áp sát thành lỗ, ma sát tăng theo độ sâu; lỗ hướng lên, trọng lượng cần khoan ngược chiều đẩy tới, điều kiện thoát mùn trong lỗ cũng phức tạp hơn. Những khác biệt này phản ánh vào năng lực thiết bị chính là việc cùng một cỡ đường kính nhưng ở các hướng khác nhau cho độ sâu khoan tham chiếu khác nhau. Tài liệu không triển khai tính toán lực cụ thể, nhưng chính gradient độ sâu khoan theo ba hướng đã cho thấy: góc không phải phần ghi chú bổ sung mà là điều kiện giới hạn của dữ liệu độ sâu khoan.

Theo hướng dự kiến của dự án, tìm đúng dòng tương ứng

Giả sử một mỏ dự kiến từ đường lò hiện có khoan xuống để kiểm chứng phần kéo dài của thân quặng, độ sâu lỗ khoan thiết kế 700 m, cỡ NQ, thì nên tra dòng 90°: độ sâu khoan tham chiếu NQ là 800 m, vẫn còn dư. Nếu cùng dự án chuyển sang khoan lỗ ngang từ đường cắt ngang để lần theo ranh giới thân quặng, độ sâu vẫn thiết kế 700 m, dòng 0° với NQ chỉ có 400 m, năng lực thiết bị không đáp ứng. Khi đó không phải tăng công suất thiết bị mà cần rà soát lại thiết kế lỗ khoan: có thể chuyển sang khoan phân đoạn không, có nhất thiết phải dùng lỗ ngang không, hoặc có điều chỉnh cỡ đường kính không. Ba hướng trong tài liệu là điều kiện tham chiếu; định nghĩa dấu dương/âm của góc ở từng mỏ thực tế có thể khác, trước khi thi công chính thức nên lấy hướng lắp đặt tại hiện trường và bản vẽ thiết kế làm chuẩn.

Mối tương ứng giữa cấp độ sâu khoan và các thông số khác

Góc và độ sâu khoan quyết định ranh giới năng lực; thiết bị có thể làm việc ổn định trong ranh giới đó hay không còn phải xem các thông số kèm theo có khớp không.

Cách đọc mối liên hệ giữa hai dòng dữ liệu góc và độ sâu khoan trong tài liệu máy khoan lấy lõi đá trong hầm lò

Cấp tiến và nâng hạ

Cơ cấu cấp tiến của CR800UG dẫn động bằng xi lanh thủy lực, hành trình 1800 mm, lực đẩy 65 kN, lực nâng 130 kN. Tài liệu đặc biệt lưu ý trạng thái chịu lực của cần khoan ở lỗ ngang, lỗ hướng xuống và lỗ hướng lên không giống nhau, cần điều chỉnh thông số cấp tiến và kéo lùi theo hướng khoan, độ sâu và thay đổi ma sát. Điều này cùng với việc độ sâu khoan phân cấp theo hướng là hai mặt của cùng một vấn đề: góc thay đổi thì không chỉ giá trị độ sâu khoan thay đổi mà thông số vận hành cũng phải điều chỉnh theo.

Dung lượng cáp tời

Dung lượng cáp tời của tời cáp là 800 m, dùng cáp thép 6 mm. Giá trị này tương ứng với độ sâu khoan NQ 800 m ở hướng 90°. Nếu dự án dự kiến khoan 400 m ở lỗ ngang, dung lượng cáp có dư; nhưng nếu nhầm thiết kế lỗ ngang đến 800 m thì bản thân dung lượng cáp sẽ thành ràng buộc cứng. Khi đọc tài liệu, dung lượng cáp tời nên được đối chiếu cùng bảng độ sâu khoan, chứ không ghi riêng một con số “800 mét”.

Tốc độ và mô-men đầu động lực

Đầu động lực là đầu dẫn động thủy lực, tốc độ 0–1500 rpm, mô-men 600–1480 N·m, cấu hình động cơ biến lượng 107. Tài liệu cho biết dải tốc độ rộng thuận tiện cho việc chọn trạng thái làm việc theo cỡ BQ, NQ, HQ và độ cứng đá. Ở đây không đưa ra tốc độ khuyến nghị cho từng cỡ đường kính, nên chỉ có thể đánh giá thiết bị có không gian điều chỉnh, không thể từ đó suy ra hiệu quả khoan thực tế của một cỡ đường kính ở một hướng nhất định.

Cách đọc mối liên hệ giữa hai dòng dữ liệu góc và độ sâu khoan trong tài liệu máy khoan lấy lõi đá trong hầm lò

Một số điều kiện tiên quyết dễ bỏ sót khi đọc tài liệu

  • Định nghĩa hướng khoan: tài liệu nhóm theo 90°, 0°, -90°, nhưng định nghĩa dấu dương/âm ở các mỏ khác nhau có thể khác, cần lấy hướng lắp đặt tại hiện trường và bản vẽ thiết kế làm chuẩn.
  • Điện kèm theo: hệ động lực dùng động cơ 22 kW × 3 hoặc 30 kW × 2; tài liệu nêu rõ cấu hình động cơ thông thường không thể trực tiếp coi là cấu hình phòng nổ, khu vực có yêu cầu phòng nổ cần xác nhận riêng theo quy định địa phương.
  • Vận chuyển và lắp ráp: vận chuyển phân tách mô-đun, trạm động lực 240/270 kg, cơ cấu cấp tiến 130 kg, khung đế 120 kg, cụm thùng dầu 120 kg, cụm vận hành 90 kg (tài liệu có chỗ ghi cụm vận hành là 130 kg, nên lấy tài liệu xác nhận kỹ thuật chính thức làm chuẩn).
  • Rửa và tuần hoàn: có thể tùy chọn bơm piston cao áp dòng 120, lưu lượng lớn nhất 120 L/min, áp suất lớn nhất 70 bar, dùng cho rửa và một số điều kiện tuần hoàn đặc biệt.

Những nội dung cần xác nhận thêm với nhà sản xuất

Tài liệu công khai đưa ra giá trị độ sâu khoan trong điều kiện tham chiếu; trước khi lựa chọn chính thức vẫn cần xác nhận các nội dung sau: các góc trung gian ngoài ba hướng (ví dụ khoảng 45°) có độ sâu khoan tham chiếu tương ứng không; ảnh hưởng của tổ hợp dụng cụ trong lỗ, loại dung dịch rửa và điều kiện địa tầng thực tế đến độ sâu khoan; hai chỗ ghi trọng lượng cụm vận hành thì lấy chỗ nào làm chuẩn; và phương án điện theo điện áp, tần số, chiều dài cáp và phương thức khởi động cụ thể của mỏ. Những nội dung này tài liệu chưa triển khai, không thể tự suy đoán.

Quay lại chính việc đọc tài liệu: hai dòng góc và độ sâu khoan không phải danh sách thông số song song mà là một nhóm quan hệ tương ứng. Trước tiên xác định hướng khoan dự kiến của dự án, sau đó tra cỡ đường kính và độ sâu khoan theo hướng đó, rồi đối chiếu từng mục cấp tiến, nâng hạ, dung lượng cáp tời, mới có thể đánh giá năng lực thiết bị có đáp ứng mục tiêu thi công hay không. Bất kỳ kết luận nào chỉ dựa vào một con số độ sâu khoan đều thiếu nửa còn lại của căn cứ.